Chia tài sản khi ly hôn

Chia tài sản khi ly hôn

I. Nguyên tắc chia tài sản khi ly hôn

Trường hợp hai vợ chồng có thỏa thuận hoặc đạt được thỏa thuận về việc phân chia tài sản, và thỏa thuận đó là phù hợp, không trái luật, không xâm phạm quyền và lợi ích của bên thứ ba thì áp dụng thỏa thuận để chia tài sản vợ chồng khi ly hôn.

Trường hợp hai vợ chồng không có thỏa thuận hoặc thỏa thuận đó không có giá trị do vi phạm pháp luật thì áp dụng Chia tài sản theo quy định của pháp luật.

II. Chia tài sản khi ly hôn theo thỏa thuận vợ chồng:

1. Thỏa thuận về chế độ tài sản của Vợ chồng được lập trước khi đăng ký

  • Theo Quy định pháp luật, vợ chồng có quyền lập Văn bản thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng.

Nội dung thỏa thuận bao gồm: Cách xác định các tài sản riêng, tài sản chung. Quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với tài sản chung, tài sản riêng và giao dịch có liên quan. Tài sản để bảo đảm nhu cầu thiết yếu của gia đình. Điều kiện, thủ tục và nguyên tắc phân chia tài sản khi chấm dứt chế độ tài sản.

– Điều kiện để thỏa thuận về tài sản của vợ chồng chỉ có hiệu lực –

  • Về hình thức: Thỏa thuận được lập bằng Văn bản và được Công chứng hoặc chứng thực;
  • Về thời điểm: Thỏa thuận về tài sản vợ chồng phải lập trước khi đăng ký kết hôn
  • Về hiệu lực: Thỏa thuận về tài sản vợ chồng được xác lập kể từ ngày đăng ký kết hôn.
  • Các trường hợp Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu (không có giá trị):

Thứ nhất: Không tuân thủ điều kiện có hiệu lực của giao dịch được quy định tại Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan

Cụ thể:

Điều 122 Bộ luật dân sự về: Điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự

Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;

b) Mục đích, nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;

c) Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.

Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định.

Thứ hai: Thỏa thuận vi phạm nguyên tắc chung về chế độ tài sản của vợ chồng như vi phạm nguyên tắc bình đẳng trong việc tạo lập, chiếm hữu sử dụng, định đoạt tài sản chung giữa vợ và chồng

Thứ ba: Thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm quyền được bảo đảm chỗ ở của vợ, chồng và gia đình là trường hợp thỏa thuận đó cho phép một bên được quyền định đoạt nhà ở là nơi ở duy nhất của vợ chồng dẫn đến vợ, chồng không có chỗ ở hoặc không bảo đảm chỗ ở tối thiểu về diện tích, điều kiện sinh hoạt, an toàn, vệ sinh môi trường theo quy định của pháp luật về nhà ở.

Thứ tư: Nội dung của thỏa thuận về chế độ tài sản của vợ chồng bị vô hiệu do vi phạm nghiêm trọng quyền được cấp dưỡng, quyền được thừa kế và các quyền, lợi ích hợp pháp khác của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình là trường hợp thỏa thuận đó nhằm trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng hoặc để tước bỏ quyền thừa kế của những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung di chúc theo quy định của Bộ luật dân sự hoặc vi phạm các quyền, lợi ích hợp pháp của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình đã được Luật hôn nhân và gia đình và pháp luật khác có liên quan quy định.

Ví dụ 1: Ông A đang có nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Sau đó ông A kết hôn với bà C và thỏa thuận chuyển giao toàn bộ tài sản của mình cho bà C, do đó, không còn tài sản để thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng cho anh B. Trong trường hợp này thỏa thuận về tài sản giữa ông A và bà C bị vô hiệu.

Ví dụ 2: Anh A có con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động. Sau đó, anh A kết hôn với chị B. Anh A và chị B đã thỏa thuận xác lập chế độ tài sản của vợ chồng, trong đó có nội dung toàn bộ tài sản của anh A sẽ do chị B thừa hưởng khi anh A chết. Trong trường hợp này, nội dung thỏa thuận về chế độ tài sản giữa anh A và chị B bị vô hiệu đối với phần tài sản của anh A mà người con bị mất năng lực hành vi dân sự được thừa kế theo quy định của pháp luật.

2. Thỏa thuận của vợ chồng về chia tài sản khi ly hôn:

Trong trường hợp này, khi làm thủ tục ly hôn tại Tòa án, vợ chồng sẽ không yêu cầu tòa chia tài sản. Thỏa thuận này có thể bằng miệng, văn bản hoặc được công chứng chứng thực.

Cũng giống như thỏa thuận về chế độ tài sản được lập trước khi đăng ký kết hôn, thỏa thuận này chỉ có hiệu lực nếu được vợ chồng tự nguyện lập và tự nguyện thực hiện. Nội dung thỏa thuận không trái luật và vi phạm quyền lợi của bên thứ ba hoặc nhằm trốn tránh nghĩa vụ và trách nhiệm của vợ hoặc chồng với bên thứ ba.

Điểm khác biệt của thỏa thuận này với thỏa thuận được lập trước khi kết hôn: Đó là thỏa thuận đòi hỏi tính tự nguyện thực hiện của cả vợ và chồng, và trong trường hợp nếu một bên không thực hiện thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án chia tài sản theo pháp luật.

III. Chia tài sản khi ly hôn theo pháp luật

Việc chia tài sản theo pháp luật được thực hiện nếu vợ chồng không có Thỏa thuận trước khi kết hôn, hoặc vợ chồng không đạt được thỏa thuận về việc chia tài sản khi ly hôn.

1. Xác định tài sản chung của vợ chồng:

Điều 33. Tài sản chung của vợ chồng

  • Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung.
  • Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.
  • Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng.
  • Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung.

2. Nguyên tắc chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn:

Trường hợp hai vợ chồng không đạt được thỏa thuận việc chia tài sản chung vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: Trích Nghị định 126/2014/NĐ-CP và Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP:

a) “Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng” : là tình trạng về năng lực pháp luật, năng lực hành vi, sức khỏe, tài sản, khả năng lao động tạo ra thu nhập sau khi ly hôn của vợ, chồng cũng như của các thành viên khác trong gia đình mà vợ chồng có quyền, nghĩa vụ về nhân thân và tài sản theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận loại tài sản để bảo đảm duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng.

b) “Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung”: là sự đóng góp về tài sản riêng, thu nhập, công việc gia đình và lao động của vợ, chồng trong việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Người vợ hoặc chồng ở nhà chăm sóc con, gia đình mà không đi làm được tính là lao động có thu nhập tương đương với thu nhập của chồng hoặc vợ đi làm. Bên có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ được chia nhiều hơn.

c) “Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinhdoanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập”: là việc chia tài sản chung của vợ chồng phải bảo đảm cho vợ, chồng đang hoạt động nghề nghiệp được tiếp tục hành nghề; cho vợ, chồng đang hoạt động sản xuất, kinh doanh được tiếp tục được sản xuất, kinh doanh để tạo thu nhập và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản chênh lệch. Việc bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và hoạt động nghề nghiệp không được ảnh hưởng đến điều kiện sống tối thiểu của vợ, chồng và con chưa thành niên, con đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự.

d) “Lỗi của mỗi bên trong vphạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồnglà lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn.

Ví dụ: Trường hợp người chồng có hành vi bạo lực gia đình, không chung thủy hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên.

3. Các lưu ý: Khi giải quyết chia tài sản chung khi ly hôn, Tòa án sẽ xem xét để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.

Ví dụ: Khi chia nhà ở là tài sản chung và là chỗ ở duy nhất của vợ chồng, trong trường hợp không chia được bằng hiện vật thì Tòa án xem xét và quyết định cho người vợ hoặc chồng trực tiếp nuôi con chưa thành niên, con bị hạn chế hoặc mất năng lực hành vi dân sự nhận hiện vật và thanh toán giá trị tương ứng với phần tài sản được chia cho người chồng hoặc vợ nếu người vợ hoặc chồng có yêu cầu.

IV. Chia tài sản khi ly hôn trong một số trường hợp cụ thể:

 1. Trong trường hợp vợ, chồng sống chung với gia đình mà ly hôn:

 Tại Điều 61 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

  • Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà ly hôn, nếu tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình không xác định được thì vợ hoặc chồng được chia một phần trong khối tài sản chung của gia đình căn cứ vào công sức đóng góp của vợ chồng vào việc tạo lập, duy trì, phát triển khối tài sản chung cũng như vào đời sống chung của gia đình. Việc chia một phần trong khối tài sản chung do vợ chồng thỏa thuận với gia đình; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.
  • Trong trường hợp vợ chồng sống chung với gia đình mà tài sản của vợ chồng trong khối tài sản chung của gia đình có thể xác định được theo phần thì khi ly hôn, phần tài sản của vợ chồng được trích ra từ khối tài sản chung đó để chia cho vợ chồng theo thảo thuận hoặc theo pháp luật.

2. Chia quyền sử dụng đất khi ly hôn:

Tại Điều 62 Luật Hôn nhân và gia đình quy định:

a) Đối với đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản, đất nông nghiệp trồng cây lâu năm đất lâm nghiệp nếu cả hai bên đều có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì được chia theo thỏa thuận của hai bên; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật.

Trong trường hợp chỉ một bên có nhu cầu và có điều kiện trực tiếp sử dụng đất thì bên đó được tiếp tục sử dụng nhưng phải thanh toán cho bên kia phần giá trị quyền sử dụng đất mà họ được hưởng;

b) Trong trường hợp vợ chồng có quyền sử dụng đất nông nghiệp trồng cây hàng năm, nuôi trồng thủy sản chung với hộ gia đình thì khi ly hôn phần quyền sử dụng đất của vợ chồng được tách ra và chia theo quy định tại điểm a khoản này;

d) Đối với loại đất khác như đất ở, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp thì được chia theo quy định của pháp luật về đất đai.

3. Chia tài sản chung của vợ chồng đưa vào kinh doanh:

Tại Điều 64  Luật Hôn nhân và gia đình quy định

Vợ, chồng đang thực hiện hoạt động kinh doanh liên quan đến tài sản chung có quyền được nhận tài sản đó và phải thanh toán cho bên kia phần giá trị tài sản mà họ được hưởng, trừ trường hợp pháp luật về kinh doanh có quy định khác.

Trên đây là nguyên tắc và cách thức chia tài sản vợ chồng khi ly hôn

Để biết thêm chi tiết xin Quý khách liên hệ:

Văn phòng luật sư Bạch Minh

Số 101/A2, ngõ 72, Nguyễn Chí Thanh, quận Đống Đa, TP Hà Nội

ĐT: 0904 152 023 

Hoặc gửi thông tin tư vấn tại đây.


VĂN PHÒNG LUẬT SƯ BẠCH MINH

Văn phòng tại Hà Nội

Mobile: 024.37756814 - 0904 152 023

Email: luatbachminh@gmail.com

Văn phòng tại Hồ Chí Minh

Mobile: 024.37756814 - 0904 152 023

Email: luatbachminh@gmail.com