Chia tài sản sau ly hôn khi tài sản chỉ đứng tên một người

Chia tài sản sau ly hôn, khi giấy tờ tài sản chỉ đứng tên một người?

Vợ chồng đã được Tòa án giải quyết cho ly hôn, nhưng khi ly hôn chưa giải quyết phần tài sản chung. Nay một bên yêu cầu Tòa giải quyết chia tài sản chung trong thời gian hôn nhân. Mặc dù giấy tờ tài sản chỉ đứng tên một người nhưng qua hai cấp xét xử Tòa xác định đó là tài sản chung và chia đôi.

1. Về tình huống nhà đất được hai vợ chồng mua trong thời kỳ hôn nhân nhưng sổ đỏ chỉ đứng tên một người

Năm 1997, Bà Nguyễn Thị Thanh B, (trú tại thành phố Hà Nội) kết hôn với Ông Nguyễn Duy P (trú tại tỉnh Bắc Ninh). Đến ngày 29/12/2022 vợ chồng bà đã được Tòa án quận N, Hà Nội xét xử cho ly hôn. Trong bản án ly hôn chưa giải quyết về tài sản chung.

Theo Bà Nguyễn Thị Thanh B, trong thời gian vợ chồng, bà và Ông Nguyễn Duy P có các tài sản sau:

– Tài sản thứ nhất: Là thửa đất có diện tích 53m2, đã xây nhà 4 tầng tại quận N, Hà Nội: Về nguồn gốc, mảnh đất này được vợ chồng ông bà mua của Nguyễn Tôn H1 năm 2003 với giá hơn 630 triệu đồng, tiền mua đất là tiền bà và ông P tích cóp, giấy trả tiền mua đất có chữ ký của bà và có người làm chứng. Năm 2004 UBND huyện L cấp sổ đỏ đứng tên ông P. Về lý do sổ đỏ chỉ đứng tên ông P là do Bà bận công việc và chăm sóc con nên ông P đã tự đi làm giấy tờ sổ đỏ. Bà khẳng định tại thời điểm ông P làm thủ tục cấp sổ đỏ thì bà không ký bất cứ giấy tờ uỷ quyền hay khước từ tài sản nào đối với thửa đất này. Đến năm 2014 Bà và ông P xây dựng 01 ngôi nhà 04 tầng Toàn bộ tiền xây dựng là của bà còn Ông P chỉ góp công sức trông nom thợ. Hiện ông P đang giữ bản gốc sổ đỏ thửa đất này.

– Tài sản thứ hai: là thửa đất 52 m2 đã xây nhà 04 tầng tại tỉnh Bắc Ninh. Đây là đất giãn dẫn được chính quyền địa phương cấp cho Bà và Ông P vào khoảng năm 2004 – 2005. Thửa đất đã được UBND huyện T cấp sổ đỏ mang tên Bà và ông P. Khoảng năm 2005 – 2006 chúng tôi cùng nhau bán ½ thửa đất này. Khoảng năm 2017-2018 ông P đã xây nhà 04 tầng bê tông diện tích 52m2. Tiền xây nhà bà không đóng góp gì. Hiện Ông P đang sinh sống trên thửa đất này.

– Tài sản thứ ba: là 01 kiot ở chợ K vợ chồng bà B mua của Hợp tác xã Thống Nhất vào năm 2010. Đến này bà mới biết Ông P đã bán kiot này vào năm 2015 với giá bán là 1,4 tỷ. Số tiền bán Kiot Ông P cầm chi tiêu mà Bà không biết.

Nguyện vọng phân chia tài sản của Bà Nguyễn Thị Thanh B như sau:

+ Bà được toàn quyền sở hữu, sử dụng đối với đất và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất có diện tích 53m2, đã xây nhà 4 tầng tại quận N, Hà Nội.

+ Ông P được toàn quyền sở hữu, sử dụng đối với đất và tài sản khác gắn liền với thửa đất tại Bắc Ninh.

+ Đề nghị ông P thanh toán cho bà ½ số tiền bán kiot là 700 triệu đồng. Tại phiên hòa giải bà đã đồng ý rút yêu cầu này.

Về phía ông Nguyễn Duy P cho rằng:

– Thửa đất có diện tích 53m2, đã xây nhà 4 tầng tại quận N, Hà Nội được mua năm 2003 với giá 700 triệu đồng, tiền mua đất là của Ông và một phần tiền góp vốn của ông Nguyễn Duy P2 và vợ là bà Nguyễn Thị Y trú tại huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Năm 2004 được UBND huyện L cấp sổ đỏ đứng tên Ông P. Hiện bà B và các con chung của Ông P và bà B đang sinh sống. Ông đề nghị Tòa án khuyên bà P rút đơn để các con ổn định học tập, sinh hoạt.

– Về thửa đất 52 m2 đã xây nhà 04 tầng tại tỉnh Bắc Ninh có nguồn gốc là do bố mẹ đẻ Ông P cho vợ chồng tôi vào khoảng năm 2004-2005

– Về kiot ở chợ K là Ông P thuê của Hợp tác xã Thống Nhất, năm  2015 Ông P đã chuyển nhượng toàn bộ kiot này  nhưng không nhớ giá chuyển nhượng là bao nhiêu. Toàn bộ số tiền chuyển nhượng Ông P đã xây nhà ở thôn D, tỉnh Bắc Ninh vào năm 2017 và trang trải cuộc sống. Do đó không còn kiot để bà B yêu cầu chia.

2. Tòa án xác định nhà đất đứng tên một người là tài sản chung vợ chồng và phân chia

Tại bản án sơ thẩm, Tòa án nhân dân quận N thành phố Hà Nội đã chấp nhận yêu cầu “Chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn” của bà Nguyễn Thị Thanh B đối với ông Nguyễn Duy P. Tòa xác định tài sản chung vợ chồng của Ồng P và Bà B gồm cả hai thửa đất tại (thửa đất tại TP Hà Nội đứng tên Ông P có giá hơn 4,8 tỷ và Thửa đất tại Bắc Ninh đứng tên Bà B và Ông P có giá hơn 3,4 tỷ).

Tòa cấp sơ thẩm cũng phân chia cho Bà B được sở hữu nhà, quyền sử dụng thửa đất tại TP Hà Nội và chia cho Ông P được sở hữu nhà, quyền sử dụng thửa đất tại tỉnh Bắc Ninh. Bà P có nghĩa vụ thanh toán cho Ông P số tiền chênh lệch liên quan đến giá trị tài sản được chia là hơn 714 triệu đồng.

Không đồng ý, ông Nguyễn Duy P kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, đề nghị Tòa cấp phúc thẩm định giá lại nhà đất ở tại thành phố Hà Nội mà Bà B được chia để chia lại tài sản theo quy định của pháp luật, ngược lại Bà Nguyễn Thị Thanh B cũng đề nghị cấp phúc thẩm định giá lại nhà đất ông P được chia tại tỉnh Bắc Ninh theo giá thị trường vào thời điểm hiện tại để phân chia.

HĐXX Phúc thẩm nhận định:

Bà Nguyễn Thị Thanh B và ông Nguyễn Duy P đăng ký kết hôn năm 1997 và đã được Tòa án quận N, Hà Nội xử cho ly hôn ngày 29/12/2022 nhưng về phần tài sản chung vợ chồng chưa giải quyết. Do không thỏa thuận được về chia tài sản chung nên bà B khởi kiện yêu cầu chia tài sản chung vợ chồng sau ly hôn.

Về tài sản chung gồm

– 01 thửa đất có diện tích 53m2, đã xây nhà 4 tầng tại quận N, Hà Nội, có nguồn gốc do bà B và ông P nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Tôn H1 năm 2003. Đến năm 2004, UBND huyện L cấp sổ đỏ đứng tên Nguyễn Duy P, năm 2014 ông bà đã xây nhà 4,5 tầng và hiện nay nhà đất do bà B và các con đang sử dụng. Mặc dù Ông P trình bày về nguồn gốc tiền mua thửa đất này là của Ông và một phần tiền góp vốn của ông Nguyễn Duy P2 và vợ là bà Nguyễn Thị Y trú tại huyện T, tỉnh Bắc Ninh. Tuy nhiên Ông P không có tài liệu nào chứng minh số tiền để nhận chuyển nhượng thửa đất này là của riêng ông P có sự góp tiền mua của ông Nguyễn Duy P2 và bà Nguyễn Thị Y. Do vậy Tòa án cấp sơ thẩm xác định đây là tài sản chung vợ chồng là có căn cứ

– 01 thửa đất 52 m2 đã xây nhà 04 tầng tại tỉnh Bắc Ninh. Nguồn gốc đất là vợ chồng bà B ông P được cấp đất giãn dân từ năm 2004 – 2005. Thửa đất được UBND huyện T cấp sổ đỏ đứng tên ông P và bà B. Trên đất có 01 nhà 3 tầng bê tông khép kín, hiện ông P đang quản lý sử dụng.

Như vậy, có đủ căn cứ xác định 02 khối tài sản trên là tài sản chung vợ chồng bà B và ông P.

– Theo kết quả định giá lại nhà đất xác định tổng giá trị nhà đất là tài sản chung của Ồng P, Bà B là hơn 13 tỷ đồng bao gồm:

+  01 thửa đất có diện tích 53m2 và ngôi nhà 4 tầng tại quận N, Hà Nội có tổng giá trị là hơn 8 tỷ đồng

+  01 thửa đất có diện tích 52m2 và ngôi nhà 3 tầng tại tỉnh Bắc Ninh có tổng giá trị là hơn 5 tỷ đồng.

– Về tỷ lệ phân chia: HĐXX Phúc thẩm xét về công sức đóng góp để hình thành nên 2 khối tài sản chung vợ chồng là ngang nhau, do vậy cấp sơ thẩm đã xác định chia tài sản chung vợ chồng theo tỷ lệ 50/50 là có căn cứ và xác định giá trị mà ÔNg P và bà B được quyền sử hữu, sử dụng nhà đất là hơn 6 tỷ đồng.

3. Phân chia tài sản chung có tính đến việc tránh xáo trộn sinh hoạt và thuận tiện cho công việc của mỗi bên

Khi phân chia tài sản, cả hai cấp Tòa án đều nhận định: Bà B hiện làm việc tại Hà Nội và từ năm 2014 đến nay bà B cùng các con sống tại ngôi nhà ở phường T, quận N, Hà Nội. Còn Ông P về Bắc Ninh ở từ năm 2014 và không sống cùng bà B và các con từ năm đó đến nay. Để tránh xáo trộn sinh hoạt và thuận tiện cho công việc, phù hợp với thực tế, cả hai cấp xét xử đều phân chia như sau:

+ Chia cho bà B được sở hữu nhà, sử dụng đất thuộc thửa có diện tích 53m2 và ngôi nhà 4 tầng tại quận N, Hà Nội. Bà B phải thanh toán phần chênh lệch cho ông P: 1.500.549.520đ.

+ Chia cho ông P được sở hữu nhà, sử dụng đất tại 01 thửa đất có diện tích 52m2 và ngôi nhà 3 tầng tại tỉnh Bắc Ninh. Ông P được sở hữu số tiền chênh lệch bà B thanh toán cho ông là: 1.500.549.520đ.

4. Nhận định và quan điểm của Luật sư:

Những tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân, mặc dù giấy tờ đăng ký quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản chỉ đứng tên một người nhưng người đó không có tài liệu, chứng cứ chứng minh nguồn gốc hình thành tài sản đó là từ tài sản riêng thì vẫn được coi là tài sản chung vợ chồng và phân chia. Giá trị phân chia dựa theo công sức đóng góp hình thành tài sản, khi phân chia tài sản Tòa án có tính đến việc tránh xáo trộn sinh hoạt và thuận tiện cho công việc của mỗi bên.

(Bài viết dựa trên Bản án số 204/2025/HNGĐ-PT ngày 31/12/2025 của TAND TP Hà Nội)


VĂN PHÒNG LUẬT SƯ BẠCH MINH

Văn phòng tại TP Hà Nội

Mobile: 0904152023

Email: luatbachminh@gmail.com

Liên hệ qua Zalo

Văn phòng tại TP Hồ Chí Minh

Mobile: 0865 285828

Email: luatbachminh@gmail.com

Liên hệ qua Zalo

Chat với Luật Sư
Chat ngay