Mục lục bài viết
- 1. Thừa kế là gì?
- 2. Xác định di sản thừa kế theo quy định của pháp luật
- 3. Các hình thức chia thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam:
- 4. Hướng dẫn chia thừa kế theo Di chúc:
- 5. Hướng dẫn chia thừa kế theo pháp luật:
- 6. Thời hiệu yêu cầu chia thừa kế
- 7. Văn bản pháp luật quy định về thừa kế hiện hành:
- 8. Các Án lệ được Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao ban hành về thừa kế
- 9. Giải quyết một số tình huống khi chia thừa kế
1. Thừa kế là gì?
Thừa kế là sự dịch chuyển tài sản (được gọi là di sản) của người đã chết cho người còn sống (còn gọi là chia thừa kế). Có 2 hình thức thừa kế:
– Thừa kế theo Di chúc theo Điều 624 – Bộ luật dân sự năm 2015 và
– Thừa kế theo pháp luật: là trường hợp người chết không để có di chúc hoặc di chúc không hợp pháp thfi sẽ áp dụng các quy định của pháp luật để chia thừa kế theo Điều 649 Bộ luật Dân sự năm 2015. Việc chia thừa kế theo luật được thực tiện tuần tự theo hàng thừa kế và các điều kiện, trình tự do pháp luật quy định.
2. Xác định di sản thừa kế theo quy định của pháp luật
|
Trích Bộ luật dân sự năm 2015 Điều 612 . Di sản Di sản bao gồm tài sản riêng của người chết, phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác.” |
Như vậy, di sản thừa kế bao gồm:
– Tài sản riêng của người chết: Là tài sản thuộc sở hữu của một cá nhân, không bị chia sẻ hay chi phối bởi người khác.
– Phần tài sản của người chết trong tài sản chung với người khác. Bao gồm:
+ Các tài mà mà người chết là đồng sở hữu với các thành viên trong hộ gia đình, tài sản của người chết đầu tư chung, được tặng cho chung với các tổ chức, cá nhân.
+ Các tài sản chung vợ chồng: Là tài sản do cả hai tạo ra, thu nhập hợp pháp, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng, tài sản được tặng cho hoặc thừa kế chung trong thời kỳ hôn nhân
+ Các tài sản mà người chết được hưởng thừa kế của người khác như: Phần tài sản mà vợ được hưởng thừa kế từ vợ, bố được hưởng thừa kế từ con…..
3. Các hình thức chia thừa kế theo quy định của pháp luật Việt Nam:
Pháp luật hiện hành quy định hai hình thức chia thừa kế đó là: Chia thừa kế theo Di chúc và Chia thừa kế theo Pháp luật
4. Hướng dẫn chia thừa kế theo Di chúc:
Là việc phân chia di sản thừa kế theo ý nguyện và mong muốn của người để thừa kế cho những người còn sống theo Di chúc mà người đó lập.
Để chia thừa kế theo Di chúc thì điều kiện quan trọng đó là Bản di chúc đó phải đáp ứng các điều kiện của pháp luật (di chúc hợp pháp). Vậy các các điều kiện của pháp luật để Di chúc có hiệu lực là gì?
4.1 Các điều kiện để Di chúc có hiệu lực pháp luật:
4.1.1 Điều kiện thứ nhất: Người lập di chúc minh mẫn, sáng suốt , không bị lừa dối, đe doạ, cưỡng ép;
4.1.2 Điều kiện thứ hai: Nội dung của di chúc không vi phạm điều cấm của luật
Theo Điều 123 – Bộ luật dân sự năm 2015, điều cấm của luật là những quy định của luật không cho phép chủ thể thực hiện những hành vi nhất định. Do đó các Di chúc có nội dung vi phạm pháp luật, vi phạm các điều cấm sẽ đương nhiên không có hiệu lực pháp luật (vô hiệu).
– Ví dụ Di chúc vi phạm điều cấm của luật:
+ Ông A lập di chúc để lại cho con 2 bánh Thuốc Phiện là vi phạm pháp luật hình sự – Di chúc Vô hiệu toàn bộ;
+ Hộ gia đình do Ông A gồm vợ chồng và con và do ông A là đại diện được nhà nước giao đất tái định cư cho Hộ, nhưng Ông A lập di chúc để toàn bộ căn nhà tái định cư cho một người con. Việc này đã xâm phạm quyền của các thành viên là đồng chủ sở hữu đó là vợ ông A và người con con lại (đều là thành viên trong Hộ được giao đất tái định cư) – Do đó Di chúc này vi phạm pháp luật với phần quyền của các thành viên – Di chúc Vô hiệu một phần.
4.1.3 Điều kiện thứ ba: Nội dung của di chúc không trái đạo đức xã hội:
Theo quy định tại Điều 123 Bộ luật Dân sự năm 2015, Đạo đức xã hội là những chuẩn mực ứng xử chung trong đời sống xã hội, được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng nhằm tạo ra một môi trường xã hội tốt đẹp, nơi mà mọi người có thể tương tác và hỗ trợ lẫn nhau, xây dựng một gia đình, một cộng đồng đoàn kết, phát triển bền vững.
Từ đó, có thể hiểu trái đạo đức xã hội là những hành vi và hành động không tuân thủ những chuẩn mực, giá trị đạo đức chung trong xã hội. Những hành vi này không được cộng đồng thừa nhận và tôn trọng, có thể gây hại đến sự hòa thuận, phát triển bền vững của một xã hội. Các hành trái đạo đức xã hội bao gồm sự thiếu trung thực, lòng tham lam, bất công, thiếu sự tôn trọng đối với những người khác..
– Ví dụ Di chúc trái đạo đức xã hội:
Ông A lập di chúc để lại tài sản cho con trai (đã lập gia đình), với điều kiện để được hưởng thừa kế là người con trai phải ly hôn với vợ – yêu cầu này là vi phạm đạo đức xã hội – Di chúc Vô hiệu
4.1.4 Điều kiện thứ tư: Hình thức di chúc không trái quy định của luật
Theo quy định tại Điều 627 – Bộ luật dân sự năm 2015 Di chúc phải được lập thành văn bản; nếu không thể lập được di chúc bằng văn bản thì có thể di chúc miệng.
– Đối với Di chúc Bằng Văn bản được quy định cụ thể tại Điều 628 – Bộ luật dân sự năm 2015
| Trích Bộ luật dân sự năm 2015
Điều 628. Di chúc bằng văn bản Di chúc bằng văn bản bao gồm:
|
Lưu ý:
+ Di chúc của người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi phải được lập thành văn bản và phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý về việc lập di chúc.
+ Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ phải được người làm chứng lập thành văn bản và có công chứng hoặc chứng thực.
– Di chúc miệng: Theo điều 629 Bộ luật dân sự năm 2025, trong trường hợp tính mạng một người bị cái chết đe dọa và không thể lập di chúc bằng văn bản thì có thể lập di chúc miệng nhằm thể hiện ý chí cuối cùng của mình trước mặt ít nhất hai người làm chứng và ngay sau khi người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng, người làm chứng ghi chép lại, cùng ký tên hoặc điểm chỉ. Trong thời hạn 05 ngày làm việc, kể từ ngày người di chúc miệng thể hiện ý chí cuối cùng thì di chúc phải được công chứng viên hoặc cơ quan có thẩm quyền chứng thực xác nhận chữ ký hoặc điểm chỉ của người làm chứng.
Lưu ý: Sau 03 tháng, kể từ thời điểm di chúc miệng mà người lập di chúc còn sống, minh mẫn, sáng suốt thì di chúc miệng mặc nhiên bị hủy bỏ.
4.2 Chia thừa kế theo Di chúc:
Việc phân chia di sản được thực hiện theo ý chí của người để lại di chúc. Nếu di chúc không xác định rõ phần của từng người thừa kế thì di sản được chia đều cho những người được chỉ định trong di chúc.
– Trường hợp di chúc xác định phân chia di sản theo hiện vật thì người thừa kế được nhận hiện vật kèm theo hoa lợi, lợi tức thu được từ hiện vật đó hoặc phải chịu phần giá trị của hiện vật bị giảm sút tính đến thời điểm phân chia di sản; nếu hiện vật bị tiêu hủy do lỗi của người khác thì người thừa kế có quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại.
– Trường hợp di chúc chỉ xác định phân chia di sản theo tỷ lệ đối với tổng giá trị khối di sản thì tỷ lệ này được tính trên giá trị khối di sản đang còn vào thời điểm phân chia di sản.
4.3 Về những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của Di chúc:
Với mục đích bảo vệ những người thân thích yếu thế (là con chưa thành niên, cha mẹ, vợ/chồng, con đã thành niên nhưng không có khả năng lao động) khỏi hoàn cảnh khó khăn khi người lập di chúc vô tình hoặc cố ý bỏ quên họ, duy trì đạo đức gia đình và trách nhiệm xã hội, cân bằng giữa quyền tự do di chúc và nghĩa vụ chăm sóc người thân thiết yếu. Bộ luật dân sự năm 2015 đã có Quy định về những người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung Di chúc
| Trích Bộ luật dân sự năm 2015
Điều 644. Người thừa kế không phụ thuộc vào nội dung của di chúc 1. Những người sau đây vẫn được hưởng phần di sản bằng 2/3 suất của một người thừa kế theo pháp luật nếu di sản được chia theo pháp luật, trong trường hợp họ không được người lập di chúc cho hưởng di sản hoặc chỉ cho hưởng phần di sản ít hơn hai phần ba suất đó: a) Con chưa thành niên, cha, mẹ, vợ, chồng; b) Con thành niên mà không có khả năng lao động.” Lưu ý: + Quy định này không áp dụng đối với người từ chối nhận di sản theo quy định tại Điều 620 Bộ luật dân sự 2015 hoặc + Họ là những người không có quyền hưởng di sản theo quy định tại khoản 1 Điều 621 của Bộ luật dân sự 2015. |
4.4 Giải thích Di chúc
– Nếu nội dung di chúc không rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau thì những người thừa kế theo di chúc phải cùng nhau giải thích nội dung di chúc dựa trên ý nguyện đích thực trước đây của người chết, có xem xét đến mối quan hệ của người chết với người thừa kế theo di chúc. Nếu những người thừa kế theo Di chúc không nhất trí về cách hiểu nội dung di chúc thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết.
– Trường hợp chỉ có một phần nội dung di chúc không giải thích được nhưng không ảnh hưởng đến các phần còn lại của di chúc thì chỉ phần không giải thích được không có hiệu lực.
5. Hướng dẫn chia thừa kế theo pháp luật:
5.1 Những trường hợp áp dụng việc chia thừa kế theo pháp luật:
Việc chia thừa kế theo pháp luật được thực hiện khi:
– Không có di chúc;
– Di chúc không hợp pháp;
– Những người thừa kế theo di chúc chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; cơ quan, tổ chức được hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế;
– Những người được chỉ định làm người thừa kế theo di chúc mà không có quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
– Ngoài ra, việc chia thừa kế theo pháp luật cũng được áp dụng đối với:
+ Phần di sản không được định đoạt trong di chúc;
+ Phần di sản có liên quan đến phần của di chúc không có hiệu lực pháp luật;
+ Phần di sản có liên quan đến người được thừa kế theo di chúc nhưng họ không có quyền hưởng di sản, từ chối nhận di sản, chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc; liên quan đến cơ quan, tổ chức được hưởng di sản theo di chúc, nhưng không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế.
5.2 Xác định hàng thừa kế theo pháp luật:
– Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi của người chết;
– Hàng thừa kế thứ hai gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;
– Hàng thừa kế thứ ba gồm: cụ nội, cụ ngoại của người chết; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của người chết; cháu ruột của người chết mà người chết là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; chắt ruột của người chết mà người chết là cụ nội, cụ ngoại.
5.3 Nguyên tắc phân chia thừa kế theo pháp luật:
– Những người thừa kế cùng hàng được hưởng phần di sản bằng nhau không phân biệt con đẻ, con nuôi, con trai, con gái, mẹ đẻ mẹ nuôi, cha đẻ cha nuôi.
– Phân chia theo thứ tự bắt đầu từ hàng thừa kế thứ nhất, những người ở hàng thừa kế sau chỉ được hưởng thừa kế, nếu không còn ai ở hàng thừa kế trước do đã chết, không có quyền hưởng di sản, bị truất quyền hưởng di sản hoặc từ chối nhận di sản.
– Nếu có người thừa kế cùng hàng đã thành thai nhưng chưa sinh ra thì phải dành lại một phần di sản bằng phần mà người thừa kế khác được hưởng để nếu người thừa kế đó còn sống khi sinh ra được hưởng; nếu chết trước khi sinh ra thì những người thừa kế khác được hưởng.
– Những người thừa kế có quyền yêu cầu phân chia di sản bằng hiện vật; nếu không thể chia đều bằng hiện vật thì những người thừa kế có thể thỏa thuận về việc định giá hiện vật và thỏa thuận về người nhận hiện vật; nếu không thỏa thuận được thì hiện vật được bán để chia.
5.4 Quy định về Thừa kế thế vị:
Thừa kế thế vị là trường hợp cháu hoặc chắt của người chết được hưởng phần thừa kế của bố, mẹ hoặc ông bà được hưởng trong trưởng hợp bố, mẹ hoặc ông bà chết trước hoặc cùng thời điểm với người để lại di sản thừa kế, quy định thừa kế thế vị nhằm duy trì sự công bằng giữa các thế hệ trong gia đình.
Quy định về thừa kế thế vị được Bộ luật dân sự năm 2015 quy định như sau.
|
Trích Bộ luật dân sự năm 2015 Điều 652 Thừa kế thế vị Trường hợp con của người để lại di sản chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì cháu được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của cháu được hưởng nếu còn sống; nếu cháu cũng chết trước hoặc cùng một thời điểm với người để lại di sản thì chắt được hưởng phần di sản mà cha hoặc mẹ của chắt được hưởng nếu còn sống. |
Ví dụ minh họa về Thừa kế thế vị:
Ông A có con là B và B có con là C, Ông A chết năm 2025 và B chết năm 2024 (chết trước ông A) thì C (là con B) sẽ được hưởng thừa kế thế vị của đối với phần Di sản mà B được hưởng thừa kế từ ông A.
5.5 Những người không được quyền hưởng di sản thừa kế:
Khi chia thừa kế theo Pháp luật, những người dưới đây không được hưởng di sản thừa kế:
– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe hoặc về hành vi ngược đãi nghiêm trọng, hành hạ người để lại di sản, xâm phạm nghiêm trọng danh dự, nhân phẩm của người đó;
– Người vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ nuôi dưỡng người để lại di sản;
– Người bị kết án về hành vi cố ý xâm phạm tính mạng người thừa kế khác nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ phần di sản mà người thừa kế đó có quyền hưởng;
– Người có hành vi lừa dối, cưỡng ép hoặc ngăn cản người để lại di sản trong việc lập di chúc; giả mạo di chúc, sửa chữa di chúc, hủy di chúc, che giấu di chúc nhằm hưởng một phần hoặc toàn bộ di sản trái với ý chí của người để lại di sản.
6. Thời hiệu yêu cầu chia thừa kế
6.1 Thời hiệu yêu cầu chia thừa kế là khoảng thời hạn do luật quy định, mà khi kết thúc thời hạn đó người thừa kế không có quyền yêu cầu chia thừa kế.
Theo Điều 632 Bộ luật dân sự năm 2015, thời hiệu yêu cầu chia thừa kế được quy định như sau:
– Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 30 năm đối với bất động sản và thời hiệu để người thừa kế yêu cầu chia di sản là 10 năm đối với động sản, kể từ thời điểm mở thừa kế. Hết thời hạn này thì di sản thuộc về người thừa kế đang quản lý di sản đó.
– Trường hợp không có người thừa kế đang quản lý di sản thì di sản được giải quyết như sau:
– Thời hiệu để người thừa kế yêu cầu xác nhận quyền thừa kế của mình hoặc bác bỏ quyền thừa kế của người khác là 10 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
– Thời hiệu yêu cầu người thừa kế thực hiện nghĩa vụ về tài sản của người chết để lại là 03 năm, kể từ thời điểm mở thừa kế.
6.2 Thời điểm mở thừa kế là thời điểm người có tài sản chết. Trường hợp Tòa án tuyên bố một người là đã chết thì thời điểm mở thừa kế là ngày được Tòa án xác định là ngày mà người đó bị tuyên bố là đã chết.
7. Văn bản pháp luật quy định về thừa kế hiện hành:
(1) Bộ luật dân sự năm 2015
Các Quy định về thừa kế được quy định khá đầy đủ trong Bộ luật dân sự, đặc biệt tập trung ở Phần thứ tư – Thừa kế trong đó các quy định chung về thừa kế, về thừa kế theo Di chúc, Thừa kế theo pháp luật , quy định về thứ tự ưu tiên thanh toán và cách phân chia di sản thừa kế. (Từ Điều 609 đến Điều 662 Bộ luật dân sự 2015);
(2) Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Quy định về quyền thừa kế của con trong trường hợp mang thai hộ vì mục đích nhân đạo (Khoản3 Điều 98);
(3) Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: Quy định tranh chấp thừa kế là một tranh chấp Dân sự thuôc thẩm Quyền của Tòa án (Khoản 5 – Điều 26) và Quyền kế thừa quyền và nghĩa vụ về tài sản của cá nhân chết thì người thừa kế sẽ tiếp tục tham gia tố tụng;
(4) Luật Doanh nghiệp năm 2020: Có các quy định về quyền thừa kế, cách thức chia thừa kế đối với: Phần vốn góp của cá nhân là thành viên Công ty TNHH hai thành viên; Phần vốn góp của cá nhân là Chủ sở hữu Công ty TNHH Một thành viên; Phần vốn góp mua cổ phần, mua trái phiếu của cá nhân là cổ đông trong công ty Cổ phần và thừa kế khi Chủ doanh nghiệp tư nhân trong trường hợp cá nhân là thành viên, là cổ đông, là chủ Sở hữu công ty và là chủ Doanh nghiệp tư nhân chết.
(5) Luật Đất đai năm 2024: Khẳng định thừa kế là quyền của Chủ sử dụng đất; quy định về hình thức Văn bản thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự; Quy định về quyền thừa kế quyền sử dụng đất của Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài;
(6) Luật Công chứng năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành: Quy định về các Văn bản, giao dịch phải công chứng: Di chúc của người bị hạn chế về thể chất hoặc của người không biết chữ; Văn bản thừa kế nhà ở; Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất.
(7) Nghị quyết 02/2004/NQ-HĐTP năm 2004 của Hội đồng Thẩm phán – Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình có nội dung hướng dẫn áp dụng các quy định của pháp luật về thời hiệu khởi kiện liên quan đến thừa kế
(8) Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP năm 2003 của Hội đồng Thẩm phán – Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết một số loại tranh chấp dân sự, hôn nhân và gia đình có nội dung hướng dẫn áp dụng quy định về thừa kế trong trường hợp chưa có đăng ký kết hôn.
(9) Hướng dẫn 24/HD-VKSTC năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao có hướng dẫn công tác kiểm sát việc giải quyết vụ án tranh chấp chia di sản thừa kế theo thủ tục sơ thẩm, thủ tục phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, tái thẩm.
8. Các Án lệ được Hội đồng thẩm phán Tòa án tối cao ban hành về thừa kế

(1) Án lệ số 05/2016/AL về Tranh chấp di sản thừa kế tại Thành phố Hồ Chí Minh
– Khái quát nội dung của án lệ: Trong vụ án tranh chấp di sản thừa kế, có đương sự thuộc diện được hưởng một phần di sản thừa kế và có công sức đóng góp vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế nhưng không đồng ý việc chia thừa kế (vì cho rằng đã hết thời hiệu khởi kiện về thừa kế), không có yêu cầu cụ thể về việc xem xét công sức đóng góp của họ vào việc quản lý, tôn tạo di sản thừa kế; nếu Tòa án quyết định việc chia thừa kế cho các thừa kế thì phải xem xét về công sức đóng góp của họ vì yêu cầu không chia thừa kế đối với di sản thừa kế lớn hơn yêu cầu xem xét về công sức.
(2) Án lệ số 06/2016/AL về Tranh chấp thừa kế tại Hà Nội mà có người thuộc diện thừa kế ở nước ngoài:
– Nội dung án lệ: Trong vụ án tranh chấp thừa kế có người thuộc diện thừa kế ở nước ngoài, nếu Tòa án đã thực hiện ủy thác tư pháp, thu thập chứng cứ theo đúng quy định của pháp luật nhưng vẫn không xác định được địa chỉ của những người đó thì Tòa án vẫn giải quyết yêu cầu của nguyên đơn; nếu xác định được di sản thừa kế, diện hàng thừa kế và người để lại di sản thừa kế không có di chúc thì giải quyết việc chia thừa kế cho nguyên đơn theo quy định của pháp luật; phần tài sản thừa kế của những người vắng mặt, không xác định được địa chỉ sẽ tạm giao cho những người sống trong nước quản lý để sau này giao lại cho những thừa kế vắng mặt.
(3) Án lệ số 16/2017/AL về Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là di sản thừa kế do một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng
– Tình huống án lệ: Di sản thừa kế là bất động sản đã được một trong các đồng thừa kế chuyển nhượng. Các đồng thừa kế khác biết và không phản đối việc chuyển nhượng đó. Số tiền nhận chuyển nhượng đã được dùng để lo cuộc sống của các đồng thừa kế. Bên nhận chuyển nhượng đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
– Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là hợp pháp và diện tích đất đã chuyển nhượng không còn trong khối di sản để chia thừa kế mà thuộc quyền sử dụng của bên nhận chuyển nhượng.
(4) Án lệ số 24/2018/AL về Di sản thừa kế chuyển thành tài sản thuộc quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của cá nhân
– Tình huống án lệ: Nhà, đất là tài sản chung của vợ chồng mà một người chết trước. Người còn lại và các thừa kế của người chết trước đã thống nhất phân chia nhà, đất. Thỏa thuận phân chia không vi phạm quyền lợi của bất cứ thừa kế nào.
Việc phân chia nhà, đất đã được thực hiện trên thực tế và đã được điều chỉnh trên sổ sách giấy tờ về đất đai. Sau khi người còn lại chết mới phát sinh tranh chấp.
– Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, phải xác định nhà, đất đó đã chuyển thành quyền sở hữu, quyền sử dụng hợp pháp của các cá nhân. Những người này chỉ có quyền khởi kiện đòi lại nhà, đất được chia đang bị người khác chiếm hữu, sử dụng bất hợp pháp mà không có quyền yêu cầu chia di sản thừa kế là nhà, đất
(5) Án lệ số 26/2018/AL về Xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu và thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là bất động sản
– Tình huống án lệ: Người để lại di sản thừa kế là bất động sản chết trước ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30-8-1990. Tại thời điểm Tòa án xét xử sơ thẩm, Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13 đang có hiệu lực pháp luật.
– Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, phải xác định thời điểm bắt đầu tính thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế là ngày công bố Pháp lệnh Thừa kế ngày 30-8-1990. Thời hiệu yêu cầu chia di sản thừa kế được xác định theo quy định của Bộ luật Dân sự số 91/2015/QH13.
(6) Án lệ số 34/2020/AL về Quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường về đất trong trường hợp đất bị Nhà nước thu hồi có bồi thường
– Tình huống án lệ: Quyền sử dụng đất do cá nhân tạo lập hợp pháp mà khi người đó còn sống, Nhà nước đã có quyết định thu hồi đất và việc thu hồi đất đó thuộc trường hợp được bồi thường.
– Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, phải xác định giá trị quyền sử dụng đất bị thu hồi được bảo đảm bằng giá trị bồi thường nên người có đất bị thu hồi có quyền lập di chúc định đoạt giá trị bồi thường đó
(7) Án lệ số 68/2023/AL về Quyền nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở của người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài
– Tình huống án lệ: Người để lại di sản là quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất chết trước ngày Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực pháp luật. Tranh chấp về chia thừa kế tài sản được Tòa án giải quyết tại thời điểm Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 có hiệu lực pháp luật;
– Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án áp dụng Luật Đất đai năm 2013 và Luật Nhà ở năm 2014 để giải quyết. Trường hợp có người thừa kế là người Việt Nam định cư ở nước ngoài thì người thừa kế được nhận di sản bằng hiện vật là nhà ở khi đủ điều kiện nhận nhà ở theo Luật Nhà ở năm 2014 và di sản có thể phân chia bằng hiện vật.
(8) Án lệ số 72/2024/AL về Xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất trong trường hợp di chúc không thể hiện diện tích đất cụ thể
– Tình huống án lệ: Di sản thừa kế là quyền sử dụng đất được định đoạt theo di chúc hợp pháp, nội dung di chúc có xác định tứ cận nhưng không thể hiện diện tích đất cụ thể và không có tranh chấp về tứ cận
– Giải pháp pháp lý: Trường hợp này, Tòa án phải xác định di sản thừa kế là quyền sử dụng đất được xác định theo diện tích đất đo đạc thực tế theo tứ cận thể hiện trong di chúc.
9. Giải quyết một số tình huống khi chia thừa kế
Tình huống 1: Chia thừa kế trong trường hợp người chết lập nhiều bản di chúc:
Lập di chúc để định đoạt tài sản của mình sau khi chết là quyền của mỗi cá nhân và pháp luật không có quy định hạn chế về số lượng Bản di chúc. Trên thực tế có nhiều trường hợp một người trước khi chết lập nhiều bản Di chúc và nội dung các bản di chúc đó khác nhau. Vậy bản di chúc nào có hiệu lực và được áp dụng để chia thừa kế?
Theo quy định, Bản di chúc hợp pháp được lập sau cùng sẽ có hiệu lực và được áp dụng để chia thừa kế. Trong trường hợp Bản di chúc sau cùng chỉ bổ sung di chúc đã lập trước đó thì di chúc đã lập và phần bổ sung có hiệu lực pháp luật như nhau; nếu một phần của di chúc đã lập và phần bổ sung mâu thuẫn nhau thì chỉ phần bổ sung có hiệu lực pháp luật.
Tình huống 2: Chia thừa kế trong trường hợp Di chúc chỉ có hiệu lực một phần:
Di chúc chỉ có hiệu lực một phần trong các trường hợp sau đây:
– Trường hợp có nhiều người thừa kế theo di chúc mà có người chết trước hoặc chết cùng thời điểm với người lập di chúc, một trong nhiều cơ quan, tổ chức được chỉ định hưởng thừa kế theo di chúc không còn tồn tại vào thời điểm mở thừa kế thì chỉ phần di chúc có liên quan đến cá nhân, cơ quan, tổ chức này không có hiệu lực.
– Trường hợp Di chúc để lại tài sản mà tài sản đó thuộc sở hữu chung của nhiều người, thì Di chúc chỉ có hiệu lực đối với phần tài sản của người lập di chúc.
Tình huống 3: Việc thừa kế giữa con riêng và bố dượng, mẹ kế
Con riêng và bố dượng, mẹ kế nếu có quan hệ chăm sóc, nuôi dưỡng nhau như cha con, mẹ con thì được thừa kế di sản của nhau. Cụ thể:
– Con riêng và bố dượng, mẹ kế được thừa kế theo Pháp luật và
– Con riêng và bố dượng, mẹ kế được thừa kế được thừa kế thế vị theo quy định tại Điều 652
Tình huống 4: Việc thừa kế giữa vợ chồng khi đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn hoặc đang trong thời gian giải quyết ly hôn:
– Trường hợp vợ, chồng đã chia tài sản chung khi hôn nhân còn tồn tại mà sau đó một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
– Trong thời gian giải quyết ly hôn (Tòa án chưa ra Bản án quyết định ly hôn hoặc Bản án chưa có hiệu lực pháp luật) nếu một người chết thì người còn sống vẫn được thừa kế di sản.
VĂN PHÒNG LUẬT SƯ BẠCH MINH